Con người từ xưa tới nay luôn là đối tượng của Triết học. Triết học do bản chất của nó, có nhiệm vụ nghiên cứu con người với mục đích khám phá ra bản chất của con người. Ngay thời cổ đại, Xôcrat đã nêu khẩu hiệu "con người hãy khám phá chính bản thân mình". Protagore nói một cách hùng hồn rằng "con người là thước đo của vạn vật". Trong tư tưởng Trung Quốc cổ xa xưa đã xuất hiện quan niệm "Thiên - Địa - Nhân" (Trời, Đất và Con người và mối quan hệ giữa chúng với nhau). Bách gia chu tử mỗi người một vẻ đều bàn đến con người. Ví như Khổng tử, đề cập đến bản tính con người, cho rằng "Nhân chi sơ tính bản thiện", Tuân tử, ngược lại, cho rằng "nhân chi sơ tính bản ác", các nhà tư tưởng này đều mong muốn giáo hoá con người. Triết học Phục Hưng kêu gọi khôi phục những gì tốt đẹp thuộc về con người bị lãng quên, bị chà đạp. Những tư tưởng của họ tràn đầy tinh thần nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Phơ Bách, cây đại thụ của nền triết học cổ điển Đức cũng bàn đến con người nhưng là con người chung chung, phi lịch sử, phi giai cấp. Tóm lại các triết thuyết trước Mác đều quan tâm nghiên cứu con người nhưng... là con người nhưng đều không tìm ra con đường giải phóng con người khỏi áp bức bất công.
Đỉnh cao trong quan niệm triết học về con người đó là chủ nghĩa Mác- học thuyết này, về thực chất, lấy con người làm điểm xuất phát và con người cũng là mục đích tối cao mà học thuyết này với tư cách là một khoa học hướng tới nghiên cứu. Triết học Phương Tây, quan tâm mổ xẻ mặt sinh học, tâm lý con người, ít chú ý tới mặt xã hội của con người, có lúc đề cao con người nhân vị, con người cá nhân đến cực đoan. Triết học Mác quan tâm sâu sắc đến con người, với tính cách là sự kết hợp hài hòa của cái sinh học và cái xã hội. C.Mác đã chỉ ra rằng: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội"1. Truyền thống của dân tộc Việt Nam không trực diện đặt vấn đề con người rõ ràng như Triết học Phương Tây mà xem xét con người với tư cách là con người cộng đồng, là người dân, thiên hạ. Từ Lý Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông sau này là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đến Hồ Chí Minh đều quan tâm đến con người- cộng đồng, nhân dân. Hồ Chí Minh trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình sớm có ý thức về thân phận con người, con người dân tộc và con người với tư cách là nhân loại, ý thức về nỗi khổ đau của con người để tìm cách giải phóng con người. Theo Hồ Chí Minh: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng bầu bạn, nghĩa rộng là đồng bào, rộng hơn là cả loài người"2, song Hồ Chí Minh không bàn đến con người trừu tượng mà gắn con người với từng hoàn cảnh cụ thể, từng thời điểm lịch sử cụ thể để xem xét nghiên cứu, giải quyết vấn đề con người. Quan điểm ấy, cách nhìn ấy quy định phương pháp luận của Hồ Chí Minh về con người, điều ấy ta có thể thấy rõ ở phong cách Hồ Chí Minh. Trong các bài viết, bài nói của mình, Hồ Chí Minh không bàn gì đến lý luận cao siêu, khó hiểu hay lý thuyết suông xa rời thực tiễn mà luôn bàn đến những gì thiết thực mang lại lợi ích cho nhân dân. Về sau ở cương vị nguyên thủ quốc gia, Hồ Chí Minh có điều kiện quan tâm đến những vấn đề rất người, rất cụ thể, đó là vấn đề "ở đời" và "làm người", phát hiện và biểu dương "người tốt", "việc tốt". Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước với xuất phát điểm đầu tiên là lòng yêu nước, thương dân với hành trang duy nhất là bàn tay trắng. Người nói: "Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba..."3 Người sớm nhận thức được thân phận người dân mất nước, kiếp sống nô lệ lầm than, từ tủi hổ đến hờn căm và quyết tâm hành động. Ra nước ngoài tìm con đường cứu nước cứu dân. Chính vì thế, khi ‘bắt gặp" Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người đã khóc lên vì sung sướng: Đây là cái cần thiết cho chúng ta!, đây là con đường giải phóng chúng ta!. Tán thành Quốc tế thứ ba chỉ vì quốc tế này ủng hộ các dân tộc thuộc địa để rồi trở thành một chiến sĩ cộng sản, từ đó mối quan tâm của Hồ Chí Minh về con người trở nên rõ ràng cụ thể. Đây không phải là con người chung chung mà là con người lao động bị áp bức. Mọi tư tưởng và hành động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đều là sự dấn thân để giải phóng con người. Người lập ra báo "Le Paria" với mục đích tôn chỉ "giải phóng con người", thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa. Người tham gia viết bài tố cáo bản chất của thực dân...nhằm thức tỉnh lương tri nhân loại tiến bộ, kêu gọi sự đồng thuận đấu tranh vì hạnh phúc con người. Là một nhà yêu nước chân chính, Nguyễn Ái Quốc tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin vì tìm thấy cẩm nang thần kỳ để giải phóng con người. Người đã rút ra một chân lý ngay từ buổi đầu làm cách mạng "chỉ có giải phóng giai cấp vô sản mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này đều là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và sự nghiệp của cách mạng thế giới"4. Vì dẫu rằng trong hoàn cảnh chủ nghĩa nhiều học thuyết nhiều, học thuyết nhiều nhưng "chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết ấm no trên toàn quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui hòa bình và hạnh phúc"5. Vậy là Người đã lựa chọn chủ nghĩa cộng sản chỉ vì chủ nghĩa ấy quan tâm đến con người, đến các dân tộc bị áp bức và có khả năng giải quyết những vấn đề thiết thực thuộc về con người. Hồ Chí Minh đã bàn nhiều đến chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Song khác với các nhà kinh điển trước đó, Hồ Chí Minh có những ý tưởng về chủ nghĩa xã hội giản dị và dễ hiểu với cách nói mang đậm phong cách quần chúng: "Chủ nghĩa xã hội là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ngày càng sung sướng"6; "Nói một cách tóm tắt, mộc mạc chủ nghĩa xã hội trước hết làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc"7. Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Hồ Chí Minh còn có nhiều mệnh đề nữa nhưng, chung quy lại, trong các tư tưởng của Người đều nói lên tư tưởng chủ đạo: CNXH là chế độ vì con người, nhằm mang lại cuộc sống hạnh phúc cho con người. Trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1871 đã ghi rõ: "...Người ta sinh ra được tự do và bình đẳng về quyền lợi; và luôn phải được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là một lẽ phải không ai có thể chối cãi được"8. Bình đẳng về quyền lợi đó là mục tiêu của những người cách mạng. Mỗi con người đều có quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đó là một chân lý. Nó được thừa nhận trong Hiến pháp Mỹ (1776) và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp (1781). Nhưng trong thực tế, đất nước nơi sản sinh ra Tuyên ngôn ấy lại vi phạm chân lý và đương nhiên các dân tộc thuộc địa sẽ đứng lên làm cách mạng để đòi lại nhân quyền và dân quyền. Ngay từ buổi đầu Hồ Chí Minh đã thấy được sức mạnh tiềm ẩn trong người Á Đông "Không: người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi"9 và "...đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương dấu một cái gì đang sục sôi, đang gào thét, và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến"10. Không chỉ dừng lại ở tư tưởng, Hồ Chí Minh còn là một nhà "triết học thực hành" (Trần Văn Giàu). Mọi hành động của Người dù nhỏ nhất đều mong muốn cải tạo cuộc sống, thực hành tinh thần "tha nhân" của đạo Phật, tinh thần "Khiêm ái" của Mặc Tử. Có rất nhiều tình tiết cảm động về Người, trong hoàn cảnh khó khăn, sau khi giành chính quyền, Hồ Chí Minh phát động phong trào cứu đói, kêu gọi mỗi người nhịn ăn một bữa, tự thân Người cũng nhịn ăn để cứu đói. Một nắm gạo của vị Cha già dân tộc cũng đủ ấm lòng quốc dân. Làm chủ tịch nước cũng chỉ vì thực hiện nhiệm vụ của "người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận"11, chứ không vì công danh lợi lộc. Bởi mối quan tâm lớn lao nhất của Người là "làm sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"12. Ở cương vị chủ tịch nước, Người lãnh đạo nhân dân ta, dân tộc ta chống ngoại xâm giành độc lập chủ quyền, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng vì giá trị cao nhất của con người là "độc lập tự do". Bởi lẽ hơn ai hết, với tư cách một người dân của đất nước mất tự do, Hồ Chí Minh hiểu rằng: mất tự do là nỗi khổ nhục nhất của con người. "trên đời ngàn vạn điều cay đắng Cay đắng chi bằng mất tự do"13 Tự do là giá trị cao nhất của con người nhưng làm sao "tự do của mỗi người là điều kiện cho sự tự do của tất cả mọi người"14, đó cũng là tư tưởng của các vị tiền bối của chủ nghĩa cộng sản. "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", chân lý đó của Hồ Chí Minh đã vượt tầm thời đại, và là chân lý chung của toàn nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh vì chính hạnh phúc của tộc loài mình. Rõ ràng ở Hồ Chí Minh có triết lý vì con người, triết lý đó là sản phẩm của lịch sử Việt Nam, nhân lõi của triết lý ấy là chủ nghĩa yêu nước và nhân ái Việt Nam, nó đã trở thành chân giá trị định hướng cho hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, và sẽ là giá trị vĩnh hằng cho dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ văn minh. _____________ 1. C.Mác và Ph. Ăngnghen toàn tập. Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1995, t.3, tr.11. 2. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2002, t.5, tr.644. 3. Hồ Chí Minh. Sđd, t.10, tr.28. 4. Hồ Chí Minh, Sđd, t.10, tr.28. 5. Hồ Chí Minh, Sđd, t.1, tr.416. 6. Hồ Chí Minh. Sđd, t.1, tr.416. 7. Hồ Chí Minh. Sđd, t.10, tr.317. 8. Hồ Chí Minh. Sđd, t.10, tr.17. 9. Hồ Chí Minh. Sđd, t.4, tr.1. 10. Hồ Chí Minh. Sđd, t.1, tr.28. 11. Hồ Chí Minh. Sđd, t.1, tr.28. 12. Hồ Chí Minh. Sđd, t.4, tr.161. 13. Hồ Chí Minh. Sđd, t.4, tr.161. 14. Hồ Chí Minh. Sđd, t.3, tr.332.
|