Tinh thần “học tập để phụng sự Tổ Quốc và nhân dân” trong tư tưởng và nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh

 

1. Dân tộc Việt Nam được ngợi ca là một dân tộc hiếu học. Tinh thần hiếu học (ham học hỏi và hiểu biết) thể hiện xuyên suốt trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Đến thời đại Hồ Chí Minh tinh thần hiếu học đó mang những phẩm cách chiều sâu và tầm cao mới: Học là để phụng sự Tổ quốc phụng sự nhân dân.


Trong cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú và sôi nổi của mình Hồ Chí Minh lấy sự học làm phương tiện că n bản để đạt đến tri thức đúng đắn đến chân lý sâu rộng và có khả năng đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn dân tộc và thời đại. Chính cái học mới mẻ là xuất phát từ mục đích cao cả phụng sự Tổ quốc và Nhân dân Hồ Chí Minh đã đạt được những thành công lớn lao. Đến lượt mình Hồ Chí Minh mong muốn tinh thần học tập ấy được phổ biến sâu rộng trong quần chúng nhân dân đặc biệt là cán bộ trí thức và thanh thiếu niên.

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh ta thấy Người đã trực tiếp hoặc gián tiếp nhiều lần bàn đến giáo dục học tập...Trong những hòan cảnh khác nhau Hồ Chí Minh có những đề cập thiết thực cụ thể về sự học. Song bao trùm lên tất cả vẫn là tinh thần mới mẻ nhân văn: học để phụng sự tổ quốc và nhân dân. Tinh thần đó được thể hiện trên mấy nét sau.

Một là Hồ Chí Minh coi trọng việc học tập coi trọng giáo dục xem đó là phương cách để kiến thiết Tổ quốc mang lại đời sống tốt đẹp cho nhân dân.

Trong thư gửi Các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên Hồ Chí Minh đã nêu lên vai trò quan trọng của sự học và thế hệ trẻ đối với tiền đồ đất nước: "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của cách em"1. Trong hoàn cảnh nước nhà đang thực hiện phong trào xóa nạn mù chữ (chống giặc dốt) Người đã viết bài Chống nạn thất học trong đó đề cao sự vai trò của sự hiểu biết ở mọi người đối với việc xây dựng đất nước: "Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình bổn phận của mình phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc biết viết chữ quốc ngữ"2. Sự học trình độ học vấn liên quan đến vận mệnh dân tộc thể hiện sự mạnh yếu của một dân tộc: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu"3. Nói chuyện tại lớp học chính trị của các giáo viên cấp II cấp III toàn miền Bắc Người đã nhấn mạnh lợi ích của việc đào tạo con người trên tinh thần một câu nói của người xưa "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người". Trồng cây là một việc làm rất cụ thể dễ dàng còn trồng người là một sự nghiệp vinh quang và rất đỗi gian nan nó có liên quan đến sự tồn vong và tương lai dân tộc.  

Chính vì thấy được vai trò của giáo dục đào tạo của nhân tố con người Hồ Chí Minh ngay trong buổi đầu mới giành được độc lập một trong sáu vấn đề cấp bách cần làm ngay thì vấn đề quan trọng thứ hai Người đã đề cập đến là diệt giặc dốt vì người cho rằng giặc dốt và giặc ngoại xâm đi liền với nhau dựa vào nhau để nô dịch dân ta.

Coi trọng sự học giáo dục và đào tạo trọn đời mình Hồ Chí Minh luôn trăn trở vì sự nghiệp đào tạo thanh niên đào tạo bồi dưỡng con người. Trong Di chúc cuối đời Người tha thiết dặn dò "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết".

Hai là Mục đích của sự học theo Hồ Chí Minh là học để phụng sự Tổ quốc phụng sự nhân dân.

Từ việc coi trọng tầm quan trọng của sự học đối với tiền đồ quốc gia dân tộc Hồ Chí Minh đi đến coi mục đích của sự học là để phụng sự Tổ quốc và nhân dân.

Trong thực tế lịch sử xã hội mỗi một thời kỳ lịch sử xã hội khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và nhận thức con người ta đề cao sự học không giống nhau. Dân tộc Việt Nam trong thời đại phong kiến đã từng ảnh hưởng bởi quan niệm "học nhi ưu tắc sĩ" (học để làm quan) cái học đó đã đào tạo ra một tầng lớp quan lại bằng con đường khoa bảng và xã hội nông nghiệp đề cao cái học để "vinh thân phì gia" để một người làm quan cả họ được nhờ. Trước Hồ Chí Minh thân phụ và các bậc tiền bối của Người ít nhiều đã chịu ảnh hưởng cái học đó. Đến Hồ Chí Minh Người nhận thức được lợi ích của việc học lớn hơn nhiều. Học để "phụng sự" tức là làm việc là lãnh nhận sứ mệnh trước quốc dân đồng bào là cống hiến đặt cái lợi nhân quần của Tổ quốc nhân dân lên hết thảy. Đó là ý nghĩa đích thực của sự học của quan điểm khoa học và cách mạng tiến bộ và nhân văn.

Ở cương vị chủ tịch Đảng chủ tịch nước đi nhiều hễ có dịp là Hồ Chí Minh dạy nhân dân của Người về lợi ích của sự học mới về ý nghĩa của sự học cao cả ấy.

Trong lời ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của trường Nguyễn Ái Quốc trung ương Người viết: "Học để làm việc làm người làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể "giai cấp và nhân dân Tổ quốc và nhân loại"...4. Phát biểu trong Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập năm 1950 Hồ Chí Minh đặt câu hỏi: học để làm gì? và Hồ Chí Minh đã nói nhiều về mục đích của sự học song đúc kết lại vẫn là cái học để làm việc để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Nói chuyện tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc 1956 Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Dạy và học phải theo nhu cầu của dân tộc của Nhà nước. Thầy dạy tốt trò học tốt cung cấp đủ cán bộ cho nông nghiệp công nghiệp cho các ngành kinh tế và văn hóa. Đó là nhiệm vụ vẻ vang của các thầy giáo cô giáo" 5. Trong thư gửi các học sinh trường Sư phạm miền núi Trung ương nhân dịp trường khai giảng 1955 Người viết: "Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tập để sau này góp phần vào việc mở  mang quê hương của mình và việc xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta"6. Trong Thư gửi các cháu lưu học sinh Việt Nam học ở Mátxítcơva Người căn dặn: "Các cháu học kỹ thuật và học tiếng Nga cần nhận rõ mình học cốt để phục vụ Tổ quốc phục vụ nhân dân. Học ngành nào cũng cần phải căn cứ vào nhu cầu của Tổ quốc của nhân dân mà định không thể tùy theo sở thích của riêng mình"7. Trong một lần khác nói chuyện tại lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I ngày 12.6.1956 Người nói: "Mục đích của giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân phục vụ Tổ quốc..."8. Có thể thấy xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh không có cái học nào hơn là sự học là để làm người giúp đời phụng sự Tổ quốc và Nhân dân. Đó cũng chính là cái học của người cách mạng của đạo đức xã hội chủ nghĩa của những con người thấm đẫm trong mình lý tưởng cộng sản.

Vậy là tiếp thu tinh thần hiếu học của cha ông song đến lượt mình ở Hồ Chí Minh cái học của dân tộc Việt Nam người Việt đã mang nội dung ý nghĩa mới học không phải chăm chắm trong bầu trời cá nhân chật hẹp "vinh thân phì gia" mũ cao áo dài cân đai võng lọng mà học có một mục đích ý nghĩa cao đẹp tràn đầy lý tưởng nhân văn cao cả để làm người phụng sự Tổ quốc phụng sự nhân dân làm lợi cho dân cho nước. Chính thấm nhuần cái lý tưởng học đó mà hàng vạn thanh niên trí thức dưới chế độ mới kể cả những trí thức được đào tạo ở Pháp (chế độ thực dân cũ) đã ra sức phấn đấu học hỏi nắm bắt khoa học kỹ thuật phục vụ sự nghiệp kháng chiến và xây dựng xã hội chủ nghĩa nhiều người đã từ bỏ trời Tây hoa lệ trở về sống đồng cam cộng khổ cùng nhân dân phụng sự sự nghiệp kháng chiến kiến quốc tiêu biểu như Bác sĩ Đặng Văn Ngữ Kỹ sư Phạm Quang Lễ (anh hùng Trần Đại Nghĩa) và nhiều trí thức dưới chế độ cũ đã sẵn sàng ra tay giúp nước như Ts Nho học Huỳnh Thúc Kháng nhân sĩ Vũ Đình Hòe...

Ba là bản thân Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về tự học học để đạt được tri thức đúng đắn phụng sự công cuộc đấu tranh cách mạng vì sự vẻ vang của Tổ quốc vì hạnh phúc của Nhân dân.

Hồ Chí Minh ra đi từ buổi nhân dân đất nước còn đắm chìm trong đêm đen nô lệ Người không có điều kiện để nuôi chí học hành sau này khi nói chuyện với sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam ngày 1.9.1961 Người thổ lộ "Về văn hóa: Tôi chỉ học hết lớp tiểu học". Người sớm dấn thân vào lao động và tranh đấu nhưng bản thân Người đã có ý thức học tập từ rất sớm. Sau này Người đã từng kể lại: "...Vào trạc 13 tuổi lần đầu tiên tôi đã được nghe những từ Pháp : tự do bình đẳng bác ái. Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy" và đó cũng là nguyên nhân Người đi về phía trời Tây để học hỏi tìm con đường khả dĩ cứu nước cứu dân. Trong  hoàn cảnh lao động kham khổ thiếu thốn có những lúc bị tù đày Người luôn có ý thực tự học tự bồi dưỡng từ ngoại ngữ đến các tri thức văn hóa khoa học. Đi đến đâu Hồ Chí Minh đều học và sử dụng được ngoại ngữ thông hiểu văn hóa để hòa nhập và hoạt động. Bản thân Người không được đào tạo một cách bài bản chính thống qua trường lớp cấp học nhưng những tri thức người có được hết sức sâu sắc và toàn diện. Người còn căn dặn cán bộ phải học ở trường học ở sách vở học lẫn nhau và học ở nhân dân. Chính nhờ học qua sách báo qua bè bạn Hồ Chí Minh đã tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng ta nhớ lại sự kiện đánh dấu Người tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lênin là vào năm 1920 khi ở giữa trời Pari Nguyễn Ái Quốc được một người bạn cho xem Luận cương Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo Hồ Chí Minh "giác ngộ": "Đây là cái cần thiết cho chúng ta đây là con đường giải phóng chúng ta!". Từ đó Người tin theo Lênin tin theo Quốc tế thứ Ba vì đã chỉ ra cho Người con đường tranh đấu cho độc lập tự do của dân tộc mình.

Tinh hoa của sự học của Hồ Chí Minh được thẩm thấu và tỏa ra ở cốt cách văn hóa thanh cao lịch thiệp trong trí thông minh xuất chúng ở lối ứng xử tinh tế hấp dẫn. Tất cả nhờ Người luôn ý thức tự học và hành. Hồ Chí Minh luôn tâm đắc câu nói của Lênin: học nữa học mãi và chính Người cho rằng học để tiến bộ mãi!

Chính nhờ cái học thấu đáo năng lực tự học xuất chúng đó đã làm cho Hồ Chí Minh hội tụ được những tinh túy văn hóa Đông Tây đem hết tài học lực học kiến học phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc của nhân dân. Và khi Hồ Chí Minh mất đi Tổ chức Văn hóa Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc đã tôn vinh người là: anh hùng giải phóng dân tộc danh nhân văn hóa thế giới. Người là biểu tượng đỉnh cao của đạo đức và trí tuệ Việt Nam ngời sáng.

2. Tinh thần học phụng sự Tổ quốc và Nhân dân của Hồ Chí Minh trong bối cảnh đất nước và thời đại hôm nay.

Việt Nam có khoảng 86 triệu người có hàng triệu trí thức và hàng vạn học sinh sinh viên. Đó là một lực lượng đông đảo đang đi tiên phong trong học tập và nghiên cứu khoa học và công nghệ là một nguồn sức mạnh cho đất nước phát triển vươn xa.

Tuy nhiên trong thực tế theo nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn sự học hôm nay dưới ảnh hưởng mặt trái của kinh tế thị trường đang bộc lộ nhiều vấn đề đáng quan ngại như cái học thực dụng (học chỉ để du học để tìm việc tốt học để kiếm tiền nhiều vị trí nhiều lợi ích...); sự học nặng về kinh tế công nghệ mà nhẹ về đạo đức nhân văn (biểu hiện ở kết quả học và thi văn học lịch sử địa lý của dân tộc...); học nặng về cụ thể mà nhẹ cái học về lý luận về phương pháp luận...Không ít người có tư tưởng lệch lạc về sự học; nạn chạy bằng mua điểm những biểu hiện coi nhẹ đạo đức học đường thiếu tôn sư trọng đạo...đang gây nên không ít những bức xúc trong nhân dân ta. Những biểu hiện sai lệch về sự học đó đang bị lên án và dư luận xã hội đòi hỏi phải có những chấn chỉnh về mục đích chương trình phương pháp dạy và học.  

Nghiên cứu và ngẫm lại tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học về mục đích học tập trong bối cảnh hôm nay quả thực nhiều quan điểm luận điểm của Người vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự và khoa học mới mẻ có thể giúp ích cho chúng ta xây dựng một xã hội học tập lành mạnh và tiến bộ.

Trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước ta việc học là một phương thức quan trọng để hội nhập bởi chỉ có giáo dục đào tạo có chất lượng mới tạo ra con người đội ngũ có năng lực phục vụ sự hội nhập ấy. Nhiều chuyên gia giáo dục của thế giới khuyến cáo Việt Nam phải đầu tư và cải cách mạnh mẽ hơn nữa trong giáo dục chỉ có thắng trong giáo dục mới có thể thắng trong kinh tế. Tinh thần học Phụng sự Tổ quốc và nhân dân chính là học để xây dựng đất nước chiến thắng đói nghèo lạc hậu vươn lên văn minh hiện đại. Tinh thần đó cần được phát huy khơi gợi trong cán bộ học sinh và nhân dân sao cho biến xã hội ta thành một xã hội thực sự học tập một cộng đồng luôn ham học hỏi và hiểu biết có trí tuệ và tài năng và nhân cách.  

Tinh thần học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân của Hồ Chí Minh có nhiều điểm trùng khớp với tinh thần của Unesco (Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục của Liên hiệp Quốc) khi Liên hiệp quốc đề ra mục tiêu của học tập là học để hiểu biết để chung sống để làm việc và làm người. Tinh thần đó của Người đã bắt nhịp với thời đại và có dịp tỏa sáng cùng thời đại.

Tư tưởng cao đẹp của Hồ Chí Minh về học tập để phụng sự Tổ quốc phụng sự nhân dân như vậy dẫn đến hệ quả tất yếu là phải học thường xuyên học suốt đời để làm việc để phụng sự điều đó hòan tòan thích ứng với một xã hội năng động và tri thức không ngừng tăng lên trong thế giới hôm nay.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập để phụng sự Tổ quốc và nhân dân hoàn toàn có khả năng đế khuyến khích sự học tiến bộ đáp ứng yêu cầu của nền "kinh tế tri thức" đang phát triển đang đòi hỏi thực học đòi hỏi trí tuệ với hàm lượng cao mà Việt Nam là một đất nước đang chuyển đỗi và bước đầu tiếp cận phát triển với nền kinh tế ấy.

Học để phụng sự Tổ quốc phụng sự nhân dân theo tinh thần Hồ Chí Minh chỉ có thể phát huy trên cơ sở một thái độ học tập tích cực và sáng tạo có phương pháp tự nỗ lực không ngừng. Cái học đó khác xa với cái học nệ cổ của phong kiến cái học đó khác xa với cái học siêu hình không thực tế của lối học kinh viện cái học đó cũng khác xa với cái học cá nhân tự kiêu tự mãn tự phụ cái học đó đối lập với cái học cá nhân chủ nghĩa không biết đến nhân quần xã hội.

* * *

     Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ta có thể học tập vô số điều nhưng trong bối cảnh mới của đất nước vận hội mới của thời đại chúng ta cần phải học và thực hành tinh thần học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Chỉ có thể với một thái học tập tích cực đúng đắn và nhân văn như vậy mỗi người Việt Nam mới có thể góp sức học và sức làm việc của mình để dân tộc có thể sánh vai cùng các quốc gia dân tộc khác tiến tới đạt được những thành công ngoạn mục trong lộ trình Công nghiệp hóa Hiện đại hóa đất nước Hội nhập và tỏa sáng cùng bè bạn khắp bốn biển năm châu./.

____________

  1. Hồ Chí Minh toàn tập Nxb Chính trị Quốc gia H.2000 t.4 tr.33.
  2. sđd t.4 tr.36
  3. sđd t.4 tr.8
  4. sđd t.5 tr.684
  5. sđd t.8 tr.138
  6. sđd t.7 tr.496
  7. sđd t.8 tr.25-26.
  8. sđd t.8 tr.183