Tư duy phương Tây vs. tư duy phương Đông. Nguon TC Tiasang

By phamxuanhoang

Tư duy phương Tây vs. tư duy phương Đông
03:28-21/11/2008
Trong hai nhóm tục ngữ sau bạn thích các câu tục ngữ trong nhóm nào hơn?
Nhóm 1:
Có nửa ổ bánh mì còn đỡ hơn là không có ổ bánh mì nào.
Một người mà đòi chống lại mọi người thì chỉ có thất bại.
"Ví dụ như" không phải là bằng chứng.
Nhóm 2:
Quá khiêm tốn là biểu hiện một nửa của sự tự cao.
Không cần coi chừng kẻ thù mà chỉ cần cẩn thận với những người bạn.
Một người đàn ông có thể mạnh hơn sắt thép nhưng lại mềm yếu hơn một con ruồi.

More...

tang chinh

By phamxuanhoang

More...

làng bát cảnh Trường Lưu- Hà tĩnh

By phamxuanhoang


 Làng bát cảnh Trường Lưu – Hà Tĩnh

Hoa tiên truyện Nguyễn Huy Hổ (tác giả Mai Đình mộng ký) Nguyễn Huy
Quê hương các nhà thõ Nguyễn Huy Oánh Nguyễn Huy Tự (tác giả Hào
Nguyễn Huy Vinh... những tác giả lớn của Văn phái Hồng Sơn.
Làng bát cảnh với thư viện xưởng in sách và chế độ học điền có cách
nay năm thế kỷ.


Từ ngã ba Đồng Lộc anh hùng theo tỉnh lộ số 12 đi về hướng đông bắc 9
km là đến địa phận làng Trường Lưu - một làng cổ danh tiếng ở huyện
Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.

Cý dân làng Trường Lưu thời Lý - Trần là dân các thôn thỏ Kẻ Tràng Kẻ
Bỉm Kẻ Đò sống ven sông Phúc Giang dưới chân núi Trà Sơn. Nửa cuối
thế kỷ XV vào thời vua Lê Thánh Tông mới di dân về định cư ở các ngọn
đồi Phượng Lĩnh Bình Cương cạnh sườn phía tây núi Nhục Sạc (núi Cài)
lập ra làng mới là Trường Lưu.

Làng Trường Lưu có lịch sử hơn 5 thế kỷ song nổi tiếng khắp nước là
từ khi thám hoa Nguyễn Huy Oánh (1713- 1789) về hưu dày công xây đựng
thành một làng có tám cảnh đẹp.

Nếu nói rằng văn hoá làng là một đặc thù riêng của nền văn hoá Việt
Nam xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII thì công đầu thuộc về nhà văn hoá
kiệt xuất Nguyễn Huy Oánh mà làng Trường Lưu là một minh chứng hùng
hồn cho nhận định đó.

Năm 1779 khi Nguyễn Huy Oánh đang giữ chức Thượng thư bộ Công ông đã
chán ghét triều đình Lê - Trịnh nên lấy cớ cao tuổi sức yếu để xin
về hưu ở quê nhà là làng Trường Lưu tổng Lai Thạch phủ Đức Quang tỉnh
Nghệ An (nay là xã Trường Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Khác với
các bậc khoa hoạn thường tình khi về hưu chỉ lo hưởng chữ nhàn vui
thú ơn vua lộc nước ban thưởng Nguyễn Huy Oánh về hưu lúc tuổi đã xế
chiều song ông vẫn miệt mài cống hiến công sức trí tuệ tiền của để
xây dựng quê hương thành một làng văn hoá vào loại tiếng tăm bậc nhất
ở xứ Nghệ cuối thế kỷ XVIII.

Nguyễn Huy Oánh không chỉ là bậc đại khoa một ông quan nhất phẩm
triều đình ông còn là một nhà giáo mẫu mực từng giữ chức "Tế tửu quốc
tử giám" người đã từng dạy dỗ chúa Trịnh Sâm và vua Lê Dục Tông thuở
thiếu thời. Ông cũng là bậc hiền triết thông tuệ cả nho y lý số và
là nhà khoa học nhà trước tác hơn 40 đầu sách có giá trị trong kho
tàng Hán Nôm của quốc gia. Vì vậy khi về hưu ở quê nhà ông đã dồn tâm
huyết vận động trong họ ngoài làng xây dựng quê hương giàu đẹp trở
thành một làng văn hoá làng "bát cảnh" tiếng thơm khắp xứ Nghệ. Ông
đã mở trường học lấy tên là Thạc Đình học hiệu thu hút hàng trăm sĩ tử
trong Nam ngoài Bắc về Trường Lưu học hành. Học trò ông đã có 30
người đậu Tiến sĩ và hàng trăm người đậu tú tài cử nhân. Nhiều ông
nghè xuất thân từ Thạc Đình học hiệu như Phạm Nguyễn Du Phạm Quý
Thích đã để lại tiếng thơm trong sử sách nước nhà. Bên cạnh Thạc Đình
học hiệu Nguyễn Huy Oánh lập ra Phúc Giang thư viện chứa hàng ngàn pho
sách Hán Nôm - có giá trị của nền văn hiến Việt Nam và Trung Hoa xưa.
Đặc biệt ở Phúc Giang thư viện Nguyễn Huy Oánh tổ chức xưởng in sách
Hán Nôm. Xưởng này đã in ấn hàng chục vạn trang sách Hán Nôm có giá
trị. Ngày nay con cháu họ Nguyễn Huy ở làng Trường Lưu còn giữ được
hơn 200 bản khắc gỗ của Nguyễn Huy Oánh dùng in sách cuối thế kỷ
XVIII. Vì vậy Phúc Giang thư viện là một công trình tàng trữ sách vào
loại sớm và lớn bậc nhất ở nước ta và đầu tiên có ở xứ Nghệ.

Nguyễn Huy Oánh còn bỏ tiền ra tậu gần 20 mẫu ruộng loại tốt lập ra
học điền để khuyến khích con em trong họ ngoài làng có điều kiện học
hành theo đòi khoa cử và vì thế cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX họ
Nguyễn Huy ở Trường Lưu ngoài ba anh em cha con Nguyễn Huy Oánh
Nguyễn Huy Quýnh Nguyễn Huy Tự có học vị Tiến sĩ còn có hơn 30 người
đậu cử nhân tú tài và hàng trãm sinh đồ khác. Làng Trường Lưu từ đây
được hãnh diện mang tên là làng khoa bảng làng quan vì có nhiều người
đậu đạt và ra làm quan.

Nguyễn Huy Oánh còn vận động dân làng góp công sức đào giếng Thạc khơi
dòng nước mạch thơm mát lập ra vườn hoa bên sườn núi Phượng Sơn rộng
hơn 2 hecta đào hồ rộng 1 hecta thả sen làm cho Trường Lưu quanh năm
có hoa nở. Ông còn cắt đất vua ban khi về hưu lập ra chợ Quan giúp dân
làng và các làng trong tổng Lai Thạch Nga Khê có nơi giao lưu buôn
bán...

Từ đó làng Trường Lưu trở thành một làng bát cảnh đầy thơ mộng: "Quan
thị triêu hà Phượng Sơn tịch chiếu Cổ miếu âm dung Liên trì nguyệt
sắc Thạc tỉnh hương truyền Nguyễn trang hoa mỹ Hân thiên tự chung
Nghĩa thương mộc đạc".

Tám cảnh đẹp ấy xưa nay người làng Trường Lưu thường đọc nôm na thành
vần điệu là:

Ráng bạc chợ Quan lúc tảng sáng
Nắng viền núi Phượng lúc hoàng hôn
Chùa hân buổi sớm hồi chuông gọi
Kho nghĩa chiều hôm tiếng mõ dồn
Rậm rạp bóng cây che miếu cổ
Lung lay bóng nguyệt chiếu hồ sen
Nguyễn trang hoa đẹp nhin ưa mắt
Giếng Thạc dòng thơm uống tỉnh hồn

Qua "bát cảnh" chúng ta thấy hiện lên một làng quê mộc mạc trù phú
êm ả ẩn chứa bao nét đẹp thiên nhiên và toả hương thơm của văn hoá
làng. Làng có trường học có thư viện có chùa có miếu cổ cây cao bóng
cả có vườn hoa hồ sen bốn mùa ngát hương thơm có giếng khơi trong
mát đủ nước sạch cho dân làng. Đặc biệt làng có kho nghĩa thương do
dân chắt chiu dành dụm góp thóc lại đế xoá đói giảm nghèo tương trợ
lẫn nhau lúc giêng hai giáp hạt khi mùa màng thất bát... Chính vì ý
nghĩa văn hoá sâu đậm của một làng bát cảnh do công đầu thuộc về
Nguyễn Huy Oánh năm 1783 triều vua Cảnh Hýng nhà Hậu Lê đã sắc phong
cho ông tước thần là "Uyên phổ hoằng dụ đại vương". Trong lịch sử ngàn
năm của chế độ phong kiến Việt Nam đã mấy ai khi còn sống mà được nhà
vua ban tặng tước "đại vương" như Nguyễn Huy Oánh ở Trường Lưu. Ông sở
dĩ được nhà vua ban thưởng hậu đãi như vậy vì đã có công "lấy văn
trồng người mở kế trăm năm" ở làng "bát cảnh" Trường Lưu.

Làng Trường Lưu xưa nay còn được coi là cái nôi số 1 của hát ví phường
vải nghệ Tĩnh. Với nhiều sự tích đầy tính nhân văn mà nổi bật nhất là
những sự tích mối tình sâu lắng của đại thi hào Nguyễn Du với hai cô
gái hát ví phường vải đẹp người đẹp nết đẹp giọng có tài bắt bẻ ứng
xử rất văn hoá là o Uy và ả Sạ. Nguyễn Du đã bày tỏ nỗi nhớ nhung
luyến tiếc và mối tình đằm thắm với các cô gái Trường Lưu ấy bằng các
áng văn sâu đậm tình người Văn tế sống Trường Lưu nhi nữ - và trong
Thác lời trai phường nón Tiên Điền (Nghi Xuân) Gửi gái phường vải
Trường Lưu (Can Lộc).

Bao thế hệ người Trường Lưu đã kế không chán câu chuyện Nguyễn Du từ
bên đông núi Hồng Lĩnh vượt truông Cộng Khánh và bến Đò Cài để "xăm
xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang" Trường Lưu hát ví với các o phường vải
thâu đêm suốt sáng... Và người Trường Lưu người Tiên Điền cũng như
mọi thế hệ người Việt Nam ai cũng bâng khuâng suy tư khi đọc lên
những câu thơ bất hủ xưa kia Nguyễn Du đã từng viết:

Hồng Sơn cao ngất mấy tầng
Đò Cài mấy trượng là lòng bấy nhiêu!

Câu thơ thật là da diết đằm thắm đầy tình nghĩa nặng lòng với quê
hương sông núi...

Làng Trường Lưu với dòng họ Nguyễn Huy xưa nay rất nổi tiếng có nhiều
thi sĩ. Thật vậy hiếm có một dòng họ ở trong một làng có đến hơn mười
người là anh em cha con chú bác ông cháu đều là thi sĩ như Nguyễn
Huy Oánh Nguyễn Huy Quýnh Nguyễn Huy Tự Nguyễn Huy Hào Nguyễn Huy
Vinh Nguyễn Huy Phó Nguyễn Huy Hổ v.v... Đặc biệt hai cha con Nguyễn
Huy Tự và Nguyễn Huy Hổ với hai tác phẩm có giá trị là Hoa tiên truyện
và Mai Đình mộng ký. Với hai tác phẩm ấy Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Huy
Hổ đã có vinh dự lớn được Nhà nước tặng danh hiệu cao quý là Danh nhân
văn hoá lịch sử cấp quốc gia nãm 1991 và 2001.

Hoa Tiên truyện của Nguyễn Huy Tự được các nhà nghiên cứu văn học đánh
giá là "một áng thơ Nôm mở đầu cho dòng thơ nôm lục bát của văn học
Việt Nam thế kỷ XVIII góp phần tích cực tạo cho Nguyễn Du viết nên
Truyện Kiều một kiệt tác của thơ ca Việt Nam. Và tiếp đến con trai
Nguyễn Huy Tự là nhà thơ Nguyễn Huy Hổ lại chịu ảnh hưởng của Truyện
Kiều của ông chú mẹ mình để sáng tác nên Mai Đình mộng ký một áng thơ
Nôm độc đáo đầu thế kỷ XIX.

Hoa tiên Truyện Kiều Mai Đình mộng ký là ba tác phẩm văn học tiêu
biểu của Văn phái Hồng Sơn ở xứ Nghệ. Đây là một văn phái nổi trội vào
loại bậc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam. Vì vậy giữa họ Nguyễn
Huy Trường Lưu và họ Nguyễn ở Tiên Điền ngoài tình nghĩa thông gia còn
sâu đậm tình vãn chương học thuật. Hai làng văn hiến ở hai sườn đông
và tây núi Hồng Lĩnh ấy đã tạo nên một Hồng Sơn văn phái mà nhãn quan
sắc sảo của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã phát hiện từ trước 1945.

Phát huy truyền thống văn hoá vẻ vang của làng bát cảnh ngày nay làng
Trường Lưu đang đổi mới khởi sắc nhiều mặt. Làng được công nhận là
làng đạt danh hiệu làng văn hoá vào loại sớm nhất tỉnh Hà Tĩnh...
Trường Lưu cũng là làng đầu tiên ở nước ta lập ra ruộng học điền dưới
chế độ xã hội chủ nghĩa. Sau 1975 để khuyến khích con em học hành hợp
tác xã nông nghiệp Trường Lưu có nghị quyết hễ con em bất cứ gia đình
nào trong làng thi đậu đại học thì hợp tác xã cấp cho một sào ruộng
loại tốt để gia đình cày cấy lấy lương thực cho con cháu học hành nên
người.

Chế độ học điền ấy gần 30 năm nay vẫn được người Trường Lưu duy trì và
phát huy tác dụng.

Trường Lưu đang đâm chồi nẩy lộc trong sự nghiệp công nghiệp hoá
hiện đại hoá quê hương đất nước.

Trần Huy Tảo (Theo Văn nghệ)

More...

Làng Tiên Điền Nghi Xuân Hà Tĩnh

By phamxuanhoang

Tiên Điền Hà Tĩnh: Làng khoa bảng và văn chương

Sách Nghi Xuân địa chí viết về thế đất thế đứng" của làng Tiên Điền
có câu: Hồng Lĩnh Sơn cao Song Ngư hải khoát Nhược ngộ minh thời
nhân tài tú phát" (Núi Hồng Lĩnh cao cao hòn song ngý ngoài biển
lộng gặp buổi có vua hiền nhân tài đua nhau phát). Đứng ở bến đò đã
thấy cái thế của làng.

Theo gia phả họ Nguyễn và sách Nghệ An ký của Hoàng Giáp Bùi Dương
Lịch (1757-1828) thì trước thế kỷ XVI Tiên Điền là một bãi đất cát
bồi của sông Cả (tên cũ của Sông Lam) đầy ao chuôm mồ mả và um tùm
cây cói lác cư dân thưa thớt sống bên những con hói mùa triều cường
nước mặn ngập bờ đêm xanh lè ánh lân tinh. Giữa thế kỷ XVI ông tổ họ
Nguyễn là Quận công Nguyễn Thuyên đến dựng cơ nghiệp đất này mang cái
tên thật nông nổi: U Điền (Ruộng hoang rậm). Cháu ông là Nam dương
Quận công đã đắp đê ngăn mặn khơi kênh dẫn nước ngọt trên Ngàn Hống
về cải tạo U Điền. Đầu thế kỷ XVII U Điền đổi tên thành Tân Điền Phú
Điền rồi Tên Điền. Theo sách Đại Minh quảng dư chí thời thuộc Minh
(1414-1417) Tiên Điền gồm 4 thôn: Báu Kệ Lương Năng Văn Trường và
Võ Phấn. Xa xưa Tiên Điền được gọi là đất Giang Sơn tụ khí" không
chỉ theo nghĩa phong thổ địa lý mà xét cả về trầm tích văn hoá. Một
thời Tiên Điền là chốn đô hội. Quanh Bàu Phổ Quán Bàu Tên Cầu Tiên
lâu đài tiếp nối quán hàng cài rãng lược người ngựa tấp nập võng
lọng rợp trời (Sách An Tĩnh cổ lục của Giáo sư Lơ- Brơtông). Không
biết từ bao giờ Xứ Nghệ có câu phương ngữ Ló (lúa) Xuân Viên quan
Tiên Điền tiền Hội Thống. Dù đất bạc dân bần nhưng quan Tiên Điền
khoa cũng như hoạn văn cũng như võ khanh hầu tể phụ danh thần dũng
tướng nhiều không làng nào sánh nổi. Du khách tới đây nghe đọc tên đền
miếu lăng mộ không tin nổi với diện tích làng 380 héc ta có thể chứa
hết: Chuồng voi Đoan Quận công họ Trần con rể chúa Trịnh Vườn Hội
Quận công Đền tế tý văn Đền thờ Hội Quận công Đền thờ Uy Quận công
Đền thờ Trinh Dũng hầu Đàn tế Lĩnh Nam công Đền thờ Tiên Lĩnh hầu
Đền thờ Xuân Nhạc công Đền thờ Lam Khê hầu Đền thờ Điền Nhạc hầu
Đền thờ Hà Chân đài Mộ tổ họ Nguyễn Mộ Xuân Nhạc quận công mộ Tán
Quận công Mộ Tiên Lĩnh hầu Mộ Nguyễn Du...

Thuở nhỏ tôi nghe câu vè Tiên Điền thờ thánh Tả Ao thờ thần mãi sau
này mới hiểu hết nguồn cơn. Xưa ở các làng khác như Vọng Nhi Đan Phổ
có đình thì Tiên Điền mãi năm Minh Mạng mới dựng đình. Thánh đây là
đạo Nho là truyền thống học hành đỗ đạt. Trong sách Lịch triều hiến
chương loại chí Phan Huy Chú viết: Khoa giáp nổi trội hơn hẳn danh
thần hiền phụ đứng hàng đầu trong phủ Đức Quang" là viết về Tiên
Điền.

Tiên Điền thời Lê - Nguyễn có 6 người đỗ đại khoa 31 người đỗ Hương
cống Cử nhân 11 người tú tài sinh đồ 3 người được bạt cống 3
người được cảnh tiến nói như giờ là được đề bạt thẳng không qua thi
cử. Nhiều người là Võ tướng Quận công Phò mã Công hầu thuộc những
dòng họ lớn: Nguyễn Trần Hoàng Lê Hà... Ở đây tôi xin lược chép
vài nét chính về 6 vị đại khoa họ Nguyễn là thân phụ chú bác anh em
Đại thi hào Nguyễn Du.

Nguyễn Nghiễm (thân phụ Nguyễn Duy) tự Hy Tư tôn huý Thiều hiệu Nghi
Hiên bút hiệu Hồng Ngư cư sĩ. Ông sinh giờ Canh Tuất ngày Thìn 14
tháng giêng nhuần năm Mậu Tý niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ tý 16 tuổi đỗ
thi hương 24 tuổi đỗ Hoàng Giáp 54 tuổi giữ chức Nhập thị Tham tụng
rồi thăng Đại tư đồ Xuân Quận công. Ngày 17 tháng 11 năm Ất Mùi ông
mất tại làng. Mất rồi vẫn được gia phong Thần Thượng đẳng với mỹ tự
Kinh luân khang tế đức vọng tài trí anh đặc cảnh lãng".

Nguyễn Khản tự Hy Trực biệt hiệu Lân Sơn cư sĩ sinh giờ Tỵ ngày Mậu
Thìn 13 tháng 3 năm Giáp Dần niên hiệu Long Đức thứ ba 20 tuổi đỗ thi
hương 27 tuổi đỗ Thi đình. Giữ các chức Nhập thị bồi tụng Tả Thị
lang bộ lại Kiều Nhạc hầu. Về sau đổi sang chức võ Hồng Lĩnh hầu
Thượng thư Bộ lại kiêm trấn thủ Sơn Tây. Chúa Trịnh từng viết tặng ông
4 chữ Nhị giáp phụ tử". Ông nổi tiếng thơ Quốc âm và mê say âm nhạc.
Người Xứ Nghệ gọi ông là Phong lưu đại thần .

Nguyễn Huệ tự Hy Hoà hiệu Giới Hiên. Sinh năm Ất Dậu Vĩnh Thịnh. 25
tuổi đỗ Thi hương làm Tri huyện Nga Sơn 29 tuổi trúng Đệ Tam giáp.
Năm Vĩnh Hữu thứ 4 truy tặng Trung Trinh đại phu Hàn lâm viện thừa
chỉ Tiên Lĩnh hầu. Năm Cảnh Hưng thứ 11 Trịnh Ân Vương bao phong Võ
Đại vương Thượng đẳng Phúc thần.

Nguyễn Tán tự Soán Phủ hiệu Cẩm Đình 21 tuổi đỗ Thi hương 29 tuổi
trúng Đệ tam giáp Đệ thất danh được bổ làm tri phủ Khánh Hoà làm
Phân khảo trường Nam Định rồi làm Đông tri phủ Vĩnh Tường.

Nguyễn Mai tên hiệu Hữu Tuyết tử sinh năm Mậu Dần đời Tự Đức. 23
tuổi đỗ thứ 3 thi hương 27 tuổi trúng Đệ tam giáp đồng tiến sĩ.

... Làng người đông ít đất nhưng vẫn dành một khoản ruộng cho sự học
gọi là học điền chia cho những người đỗ đạt. Tiến sĩ Cử nhân Tú tài
mỗi người được 1 mẫu 8 sào. Ngoài ra còn ruộng đầu xã dành cho
người đỗ đạt cao nhất của làng. Cái vị trí trang trọng giữa đình làng
ở Tiên Điền không phải dành cho bậc cao tuổi nhất mà dành cho người đỗ
đạt có công dạy học cho thế hệ trẻ. Lại có ruộng lễ hội: ruộng khai
hạ ruộng tế đinh tế điền ruộng xuân thu kỳ hạp... Tiên Điền là làng
có nhiều lễ hội nổi tiếng khắp vùng: Lễ lên lão lễ khai hạ lễ xuân
tế lễ cầu khoa lễ cúng cơm mới lễ gieo mạ. Tiên Điền cũng là làng
mà các loại hình văn học dân gian rất đa dạng và phong phú: Thần
thoại cổ tích truyền thuyết truyện kể ca dao tục ngữ hát ví
phường nón hát dặm tuồng chèo hát ả đào hò vè. Có lẽ truyền thống
văn hoá dân gian này đã nuôi dưỡng tâm hồn các tác gia Tiên Điền là
mạch nguồn giúp cho sự phát triển văn học Tiên Điền. Thời nào đó đã có
câu: Xính thay một xứ đôi tiên; Tiên Lý phát võ Tiên Điền phát
văn". Ở Hà Tĩnh có nhiều dòng văn nổi tiếng góp một phần to lớn cho
văn học dân tộc. Dòng văn họ Phan Huy với Phan Huy Ích Phan Huy Vịnh;
dòng họ Nguyễn Huy với Nguyễn Huy Hổ Nguyễn Huy Oánh Nguyễn Huy Tự
đặc biệt là dòng họ Nguyễn Tiên Điền là trụ cột của Văn phái Hồng
Sơn hình thành ở Xứ Nghệ vào thế kỷ XVII-XVIII. Thư tịch cổ còn lại
quá ít những trước tác của những tác giả Tiên Điền tôi thống kê dưới
đây chắc hẳn còn thiếu sót nhiều nhưng cũng đủ cho chúng ta khâm phục
kính trọng. Đó là Nam dương tập yếu kinh nguyên của Nguyễn Nhiệm; Đại
hiệu chân kinh Từ âu chân thuyền Dịch kinh quyết nghị của Nguyễn
Quỳnh; Xuân trung liên vịnh Xuân Đình tạp vinh Việt sử bị lãm Lạng
Sơn đoàn thành đồ chí Cổ lễ nhạc chương thi văn tập Khổng Tử mộng
Chu Công của Nguyễn Nghiễm; Quế Hiên thi tập Hoa trình tiền hậu tập
của Nguyễn Nễ; Thanh Hiên tiền hậu tập Nam trung tạp ngâm Bắc hành
tạp lục Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) Văn chiêu hồn Văn tế
Trường Lưu nhị nữ Thác lời trai phường nón Tiên Điền của Nguyễn Du;
Châu trần di cảo của Nguyễn Nghi; Đông phủ thi tập Huyền cơ đạo thuật
bí thư Nhuận bút Hoa Tiên của Nguyễn Thiện; Quan Đông hải thi tập
Minh Quyên thi tập Thiên hạ nhân vật thư của Nguyễn Hành; Tiểu học
toàn thư của Trần Lục Nam; Thái hiền dư tập Tập phú Tập tứ học của
Trần Kim Thành...

Thời hiện đại Tiên Điền là ngọn cờ đầu của công tác giáo dục. 3000
dân mà có tới hơn 1000 học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Người Tiên Điền
là Tiến sĩ kỹ sư bác sĩ công tác trong và ngoài nước khá nhiều cho
đến nay chưa có con số thống kê nào cụ thể.

Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Tiên Điền là làng có đóng góp
to lớn. Từ xa xưa Tiên Điền từng được Nhà Lê ban tên Xã Trung
Nghĩa vì đã có công bảo vệ kinh thành Thãng Long. Nãm 1419 dân Tiên
Điền tham gia cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh của Đặng Dung Nguyễn
Biểu dưới triều Trần Trùng Quang. Khi Tây Sơn ra Bắc dân Tiên Điền
không ít người làm việc với Tân triều đóng góp vào cuộc kháng chiến
chống quân Thanh. Sử còn ghi tên Nguyễn Nề Nguyễn Thiện Nguyễn Công
Hoàng Kim Thành Hoàng Kim Hoa... Cuối thế kỷ XIX khi vua Hàm Nghi ra
chiếu Cần Vương dân Tiên Điền đã theo nhà nho yêu nước Hà Văn Mỹ võ
tướng của Phan Đình Phùng đánh Pháp ở vùng ven sông Lam. Trong phong
trào Xô viết Nghệ Tĩnh làng Tiên Điền là một cơ sở của Đảng. Dân Tiên
Điền lập hội Tập Phúc mở lớp học chữ quốc ngữ biểu tình đấu tranh
chống Pháp và phong kiến Nam triều. Cách mạng Tháng Tám 1945 thanh
niên Tiên Điền là lực lượng xung kích cướp chính quyền ở huyện. Tên
Điền có 94 gia đình liệt sĩ 54 thương binh 2 Bà Mẹ Việt Nam Anh
hùng. Chẳng có chi lạ là trong nhiều tấm bia đá của làng chỉ còn lại
non nửa chữ bị mưa gió xói mòn nhưng bốn chữ ở bia Đàn tế Lĩnh Nam
hầu: Hồng nguyên Tuấn lưu" (Nguồn lớn dòng mạnh) vẫn rõ nét sắc
cạnh.

Trưa ấy chúng tôi đến nhà ông Nguyễn Mậu tộc trưởng họ Nguyễn Tiên
Điền. Ông Mậu cho con gọi thầy giáo Nguyễn Minh cháu trực hệ dòng họ
đến tiếp chúng tôi. Câu chuyện bắt đầu từ khu lưu niệm và mộ cụ Nguyễn
Du. Anh Minh nói:

- Cụm di tích và khu lưu niệm Nguyễn Du bao gồm khu lưu niệm Nguyễn
Du đền thờ Nguyễn Huệ (Anh cả của Nguyễn Nghiễm bác ruột Nguyễn Du)
mộ và đền thờ Nguyễn Nghiễm (thân phụ Nguyễn Du) nhà thờ Nguyễn Trọng
(chú ruột Nguyễn Du) và khu mộ Nguyễn Du. Vừa rồi Nhà nước đầu tý hơn
5 tỷ đồng để đúc tượng nâng cấp khu lưu niệm làm lại khu mộ Đại thi
hào dân tộc Danh nhân văn hoá thế giới họ Nguyễn chúng tôi mừng lắm.
Nay nhìn thấy đẹp hơn sang hơn trước nhiều lắm. Cần thế và cần hơn
thế. Các anh ở bảo tàng thống kê một năm có gần 400 đoàn khách trong
nước với gần 15000 lượt người 18 đoàn khách nước ngoài với 180 lượt
người và hàng vạn khách thăm tự do. Tiếc là không ai hỏi người họ
Nguyễn chúng tôi một lời. Đúc tượng cụ Nguyễn Du khó lắm. Cụ không có
ảnh để lại phải từ cốt cách dòng họ cốt cách làng Tiên Điền từ
Truyện Kiều thơ chữ Hán của cụ mà tưởng tượng ra. Máu thoảng hơn
nước lạnh đặc các cụ cao tuổi dòng họ Nguyễn mà góp ý thì chắc
giống hơn. Đấy là tôi chưa nói cái ta thường gọi là Tâm thức .
Rồi mộ cụ nữa. Lý luận về trước miếu sau bia đâu chúng tôi không biết
nhưng 600 nãm từ khi có làng đến nay Tiên Điền có vài chục lăng mộ
rồi. Không ai dựng cái nhà bia che hết mộ đi như thế...

Ngày 28 tháng 9 năm 2002

Đức Ban (Báo Văn nghệ)

More...

tươi mới thủ đô_ Thơ

By phamxuanhoang

TƯƠI MỚI THỦ ĐÔ
                          PHẠM THẠCH HOÀNG 

Sáng nay tôi thức dậy

Nơi đây thành Hà Nội thật rồI

Sự rộng mở trong lòng biên đất mẹ
Hà Tây giờ thành kỉ niệm xa xôi 
Những văn hóa vùng miền đã thêm dấu nốI
Những phố - làng thênh thang tươi mớI
Bao người nông dân háo hức chờ đợI
Sự đổi thay mang tới điều gì 
Cũ xưa thuộc phố bây giờ
Những trầm tích ngàn năm trở mình thức giấc
Bắt nhịp hôm nay trên hành trình vội vã
Tương lai ta đang kết nối định hình 
Ta vẫn là ta mình vẫn là mình
Người Việt Nam lại chung lưng đấu cật
Dựng thủ đô văn minh
Tô điểm đất nước mãi ngàn năm văn hiến 
Xuân Mai Hà Tây-Hà Nội tháng 6.2008 

More...

bài viết về Hội nhập năm 2006

By phamxuanhoang

      VIỆT NAM  BƯỚC VÀO WTO NIỀM KÌ VỌNG PHÍA TRƯỚC!

      Ngày 07 tháng 11 trùng với ngày kỷ niệm cách mạng tháng mười Nga vĩ đại đã trở thành mốc đánh dấu một sự kiện có ý nghĩa to lớn với Việt nam ta: Chúng ta đã thực sự bước vào một ngôi nhà chung của thế giới WTO. Nơi đó đã có mặt 149 nước thành viên khác nhau cùng với sự góp mặt của Việt Nam đó sẽ là con số 150 một "sân chơi" và nơi thử sức rất có ý nghĩa với đất nước chúng ta trong thời đại toàn cầu hoá với mỗi người dân đã từng háo hức hi vọng và chờ đợi về một tương lai tươi sáng của dân tộc. Cờ của Việt Nam đã tung reo trong gió hoà cùng năm châu bốn biển vậy là từ đây ta có thêm nhiều cơ hội to lớn để hiện đại hoá đất nước Việt Nam ta tiến lên tới thực hiện mục tiêu "dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh".

      Từ một nền nông nghiệp lúa nước truyền thống đang trên đà chuyển đổi qua bao sự nổ lực phát triển kinh tế được thế giới ghi nhận qua bao vòng đàm phán thương lượng với các đối tác chúng ta đã thực sự có mặt ở một tổ chức lớn về thương mại mà bất kì nước nào vào sân chơi đó đều dậy lên một niềm hi vọng lớn lao.

      Đảng và Nhà nước ta từ lâu đã xác định chủ động hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta có cả cơ hội lẫn thách thức. Cơ hội càng nhiều thách thức càng lớn đó là một quan hệ tỉ lệ thuận mà để đảo nghịch được tỉ lệ này thì nhân dân ta đang cùng nhau giải bài toán lớn: bài toán hội nhập.

      Qua quan sát gần đây các nhà phân tích thế giới cũng như Việt Nam đã đề cập và kể cả có những cảnh báo về những thuận lợi mà rủi ro khi ta vào làm ăn ở một thị trường rộng lớn đòi hỏi ta phải thận trọng hơn khôn khéo hơn và thông minh hơn

      Sự học hỏi luật pháp và cung cách làm ăn lớn nghiêm túc là điều ta không thể xem thường. Sự thiếu hiểu biết pháp luật đã làm ta phải bao phen trả giá rồi đây ta phải chắc tay hơn trong mỗi cuộc kí kết ta phải hiểu rõ hơn đối tác của mình.

      Bước vào WTO chẳng khác gì ta từ sông ra biển cả đầy nắng gió cũng không loại trừ có cả bão tố và không cẩn thận dễ bị chao đảo tay chèo. Ta đã và đang cần phải lựa chọn một tâm thế ứng xử cao hơn là một bản lĩnh văn hoá và nhân cách dân tộc trong kinh doanh và hội nhập.

      Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học. Sự giàu mạnh của chúng ta trong một thế giới cạnh tranh toàn cầu đòi hỏi chúng ta phải nhân lên truyền thống hiếu học của cha ông nhưng đòi hỏi một cách bài bản trọng thực tế và hiệu quả hơn. Ta không thể lấy bằng cấp để loè người ta phải lấy chính năng lực của ta để chinh phục đối thủ đó là một hành trình gian nan.

      Sự chiến thắng ngoại xâm là một kì công của dân tộc chiến thắng đói nghèo lạc hậu sẽ phải là kì công thứ hai mà thành quả đưa lại sẽ giúp chúng ta có cơ hội hoá rồng thực hiện ước mơ ngàn đời của người Việt về một dân tộc Việt Nam vạn những mùa xuân . Ước vọng đó làm mỗi người Việt Nam chúng ta phải nổ lực hơn rất nhiều.

      Trước những cơ hội về kinh tế để phát triển cũng không loại trừ những cám dỗ và lệch lạc đòi hỏi mỗi chúng ta phải ý thức sâu sắc hơn nữa bài học giữ vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đó là một hằng số của chúng ta mà không bất kì một lí do nào có thể lay chuyển được.

      Chúng ta có đủ dũng khí và cơ sở để tin rằng chúng ta sẽ vượt qua được những gian nan thử thách trên lộ trình đi tới chúng ta sẽ phát huy được truyền thống đoàn kết kiên cường bất khuất quả cảm sáng tạo của hàng nghìn năm dân tộc tận dụng được sức mạnh của thời đại để khởi sắc trong thế giới văn minh./. Tháng 11.2006

    

   
 
 


More...

xem mãi Tây du kí

By phamxuanhoang

Xem mãi Tây Du ký 

Có câu chuyện Tây Du

Xem từ bé trên màn ảnh nhỏ

Lớn lên rồi vẫn nhớ

Anh khỉ họ Tôn 

Chuyện Tây Du đâu phải dành cho trẻ con

Khi ta đã là người lớn

Vẫn xem Tây Du vui hơn hớn

Một đứa trẻ hôm qua thức dậy hôm nay 

Xem chuyện Tây Du

Hư mà như thực

Chuyện xưa mà như nay

Xem mãi rồi lòng vẫn mê say

29.7.08 

More...